Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

SỰ TÍCH ĐƯA ÔNG TÁO VỀ TRỜI





TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 – 74)    
BLOG CỰU HỌC SINH BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                      Blog: chsbodelengoctam  –  Smail: lengoctam138@gmail.com
                              Phone: 0914.00.09.09 – 0125.68.68.108 – 0919.95.65.15

SỰ TÍCH VỀ ÔNG TÁO

Thế gian một vợ, một chồng, 
không như vua bếp, hai ông một bà
Thần Bếp hay còn gọi là ông Táo, Táo quân, ông Công, ông vua Bếp. Ông Táo có nhiệm vụ ghi chép tất cả những hành vi và lời nói của những người ở trong gia đình thần trông nom. Hàng năm cứ vào ngày hai mươi ba tháng chạp ông Táo, cưỡi cá chép về trời tâu với Ngọc Hoàng thượng đế trong một bản tường trình gọi là Sớ Táo quân nói về những chuyện đã xẩy ra trong năm qua của gia chủ và những việc thiện ác của nhân gian. Tùy theo lời ông Táo tâu trong sớ mà gia đình ông Táo đang ở trong năm tới sẽ gặp được sự lành hay dữ.
Ðể đưa tiễn ông Táo về chầu trời, người ta làm lễ cúng tiễn gọi là Chạp ông Công. Ðồ cúng thường là hoa quả, xôi gà hay chân giò heo. Ðể hối lộ, đấm mồm, đấm mép Thần Táo, trong các món đồ cúng, người Trung Hoa có món mật mía, hầu mong ông Táo nói toàn những chuyện ngọt như đường như mật cho Ngọc Hoàng nghe. Thần Táo là một bộ ba hai ông một bà. Chúng ta thường được kể chuyện về bộ ba ông bà thần bếp như sau : Ngày xưa có hai vợ chồng chú tiều phu rất nghèo khổ nọ sống ở ven rừng, không có con cái. Người chồng hay rượu chè tối ngày bỏ bê công ăn việc làm :
Tẩn mẩn tê mê vì cô bán rượu,
Liệt chiếu liệt giường vì chị bán nem.
Người vợ đã nhiều lần can gián. Nhưng người chồng vẫn chứng nào tật nấy, tối ngày ngâm nga :
Còn trời, còn nước, còn non,
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa

Càng say sưa rượu chè, không những bỏ bê việc làm ăn mà người chồng lại càng hành hạ, đánh đập vợ. Người vợ vì thương chồng nhẫn nhục chịu đựng nhưng một ngày kia người chồng say bí tỉ “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân”, đánh đập vợ tàn nhẫn rồi đuổi vợ đi. Người đàn bà đi lang thang vào mãi tận sâu trong rừng. Ðến tối đêm thì thấy một ánh lửa ở một căn nhà giữa rừng. Chị gõ cửa vào xin tá túc. Chủ căn nhà là một người thợ săn sống một mình. Chị kể lể sự tình, người thợ săn thương tình chấp thuận cho chị ở lại. Sau đó hai người sống với nhau như vợ chồng. Người thợ săn rất yêu vợ. Người tiều phu chồng cũ thấy vợ bỏ đi đâm ăn năn hối hận rồi một sáng nọ quyết định đi vào rừng tìm vợ. Ðến xẩm tối, người này cũng đến căn nhà giữa rừng. Gõ cửa xin vào tá túc. Một người đàn bà ra mở cửa. Anh nhận ra chính là vợ mình. Hai người mừng tủi gặp lại nhau. Người tiều phu năn nỉ người vợ trở về sống với mình. Hai người đang chuyện trò thắm thiết với nhau bỗng người thợ săn về nhà. Người đàn bà sợ hãi vội dấu người chồng cũ vào đống lá. Người thợ săn đem con thú mới săn được bỏ vào đống lá để thui. Người thợ rừng, chồng cũ của người đàn bà không dám xuất đầu lộ diện sợ mang tai họa làm đổ vỡ hạnh phúc của người vợ, đành cam chịu chết cháy. Thấy người tiều phu chồng cũ bị chết cháy, người đàn bà vẫn còn yêu người chồng cũ tự cho rằng mình đã giết người chồng cũ vì dại dột dấu anh ta trong đống lá. Bà liền nhẩy vào đống lửa chết theo. Người thợ săn thấy vợ mình tự thiêu, thương vợ tưởng mình đã làm điều gì trái nghĩa khiến nàng phải tự tử nên cũng nhẩy vào đống lửa chết theo.
Một truyền thuyết khác tương tự ở vùng đồng ruộng lại kể rằng : Ngày xưa có hai vợ chồng rất yêu nhau nhưng vì quá nghèo phải bỏ nhau. Sau người vợ lấy được một người chồng giầu có. Một hôm tình cờ người chồng cũ đi ăn xin đến nhà người vợ cũ. Người vợ đem tiền của ra giúp chồng. Nhân lúc đó người chồng mới về. Người đàn bà dấu chồng cũ trong đống rơm. Người chồng mới đốt rơm lấy tro bón ruộng. Người chồng cũ chịu chết cháy để giữ hạnh phúc cho vợ. Người vợ cảm kích nhẩy vào lửa chết theo. Ông chồng mới thương vợ cũng nhẩy vào đống lửa chết cháy. Ngọc Hoàng động lòng thương thấy ba người đều chết cháy vì tình vì nghĩa nên phong cho họ thành bộ ba ông bà Táo chụm đầu vào nhau trong bếp lửa. Thần bếp của chúng ta vì thế có một bà hai ông và gọi là Thần Táo.
Hàng năm chỉ ông Táo về trời trình thượng đế còn bà Táo ở lại nên nếu ông Táo mách chuyện gì không tốt với Thượng đế thì bà Táo ở lại sẽ chịu những lời đắng cay của người đời : _ Gió đưa ông Bếp về trời,
Bà Bếp ở lại chịu lời đắng cay.
Táo là gì ? Trước khi đi tìm nguồn cơn, khúc nhôi của câu chuyện này, ta hãy tìm hiểu xem tại sao lại gọi thần bếp là Táo. Táo là gì ? Từ Táo có nghĩa là ông thần Bếp. Táo có gốc Tá - có nghĩa là Lửa. Mặt Trời. Ta thấy từ “” đi đôi với từ “hỏa” như trong những từ ghép “tá hỏa”, “tá hỏa tam tinh”. Cổ ngữ Mường Việt gọi các vị thần tổ phái nam thuộc dòng mặt trời, dòng lửa là Tá ví dụ Tá Cần, tá Cài. Theo bài hát tế Ðẻ Ðất Ðẻ Nước tức Mẹ Ðất Mẹ Nước ở Thanh Hóa thì vua Hùng Vương Dịt Dàng và tá Cài cùng sinh ra từ trăm cái trứng của bà Ngu Cơ, tức bà Âu Cơ :
Trứng một đẻ ra ông Dịt Dàng,
Trứng hai đẻ ra ông Lang Tá Cài,
Trứng ba nở ra ông Lang Tá Cần . . .
Ba Tư ngữ “Tarr” là thần lửa. Ai Cập ngữ Ptah, Tatom, Tatum là thần mặt trời. Tá là tổ, là tỏ, là mặt trời, là lửa. Ông Táo là ông Tá, ông Lửa, tức ông Thần Bếp Lửa. Từ táo liên hệ tới lửa nên còn có các nghĩa phụ khác là khô, cứng như bị “táo bón”, cây “táo”. Cây táo là loại cây chịu đựng được khô hạn. Quả táo cũng được phơi khô dùng để hầm thức ăn và làm vị thuốc. Quả táo là quả khô có dương tính. Ông Táo là Thần Bếp lửa.
Bếp là gì ? Bếp là nơi có lửa nấu thức ăn nước uống. Bếp có gốc bế – ruột thịt với “bễ” có nghĩa là ống thổi lửa như ống bễ thợ rèn, kéo bễ thổi lửa như thường ví hai cái lỗ mũi như hai cái ống bễ. Bếp liên hệ với “bật” là làm sáng lên như bật đèn, bật lửa, bật diêm quẹt.... Bễ, bếp, bật... liên hệ với Phạn “bhà-”, sáng, làm sáng lên. Vậy bếp liên hệ với lửa. Tóm lại ông Táo là ông Lửa, ông Thần Bếp Lửa.
Tại sao thần táo lại cỡi cá chép về chầu trời ? 
Theo truyền thuyết, thần Táo cỡi cá chép về chầu Ngọc Hoàng. Trong các món đồ cúng ông Táo có món cá chép còn sống bơi trong chậu nước để ông Táo dùng làm phương tiện di chuyển về trời. Tại sao Thần Táo lại cưỡi cá chép ? Ông Táo có thể cỡi cá chép bay về trời được vì cá chép có thể hóa ra rồng bay lên mây, lên trời được. Cá chép “hóa rồng” thấy qua câu ca dao sau này :
Bao giờ cá chép hóa rồng,
Bõ công cha mẹ bế bồng ngày xưa.
Theo truyền thuyết thì :
Mồng bốn cá đi ăn thề,
Mồng tám cá về, cá vượt Vũ-môn.

Vũ-môn là một chỗ có nhiều ghềnh thác trên Trường Giang tức sông Dương Tử thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay. Cứ đến ngày mồng tám tháng tư thì cá chép ở các nơi qui tụ về chỗ ghềnh thác này để thi nhẩy. Con nào nhẩy vượt qua được ba bậc của ghềnh thì hóa thành rồng. Cá chép hóa rồng nên cá chép cũng được dùng làm biểu tượng cho vua Rồng Lạc Long Quân. Người Mường thờ cá chép coi như là Lạc Long Quân và con nai sao là Âu Cơ. Chúng ta cũng coi cá chép là biểu tượng cho Lạc Long Quân. Chứng tích cá chép liên hệ đến Lạc Long Quân thấy qua câu sử miệng ca dao cổ ở làng Lệ Mật, Gia Lâm ngoại ô Hà Nội :
Ðến ngày 23 tháng ba,
Dân trại ta vượt Nhị Hà thăm quê,
Kinh Quản, Kinh Cự đề huề,
Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây.
Cứ đến ngày 23 tháng 3 âm lịch, dân làng Lệ Mật đánh cá ở giếng đình để lấy “cá đóng dấu đem dâng thánh ăn gỏi. Ðó là những con cá chép có dấu son đỏ trên vẩy. Dân làng bảo đó chính là Hồ Tây cá nhẩy đi về trong mây” (Ðặng Văn Lung, Nguyễn Thị Huế, Trần Gia Linh, Văn Hóa Luy Lâu và Kinh Dương Vương, NXB Hội Nhà Văn, 1998 tr.61).
Hồ Tây là hồ Thầy, hồ Mặt trời lặn, hồ Lạc Long Quân. Cá nhẩy đi về trong mây tức là cá hóa long chính là cá chép, cá biểu của Lạc Long Quân. Câu cá chép hóa rồng, cá vượt Vũ Môn cũng chỉ về sự học hành đỗ đạt, làm nên danh phận. Ngày xưa chỉ phái nam mới học hành thi cử làm nên công danh vì thế cá chép vượt Vũ môn đã được người Nhật đem vào ngày lễ Con Trai vào tháng 5. Tại sao lại chọn tháng 5 ? Xin thưa số 5 theo Dịch là Li, lửa, mặt trời, dương. Trong ngày lễ Con Trai, nhà nhà người Nhật đều treo phướn cá Koi, một loại cá chép màu rất đẹp với niềm mơ ước là con trai mình sau này như cá chép hóa long. Cũng chính vì cá chép dùng làm phương tiện về trời của thần bếp lửa vào tháng cuối tháng chạp mà chúng ta gọi nó là cá “chép”. “Chép” biến âm với “chạp”. Cá chép là cá tháng chạp. Chép và chạp đều có nghĩa là “hai”. Thật vậy với h câm, ta có chạp = cạp, cặp. Tháng chạp là tháng cặp, tháng hai. Theo biến âm ch=k như chênh=kênh, ta có chép=kép, có nghĩa hai : “rộng làm kép, hẹp làm đơn”. Người Việt chúng ta gọi là tháng 11 ta là tháng một và tháng 12 ta là tháng chạp, tháng cặp, tháng hai và tháng một ta gọi là tháng giêng :
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà.
.. .. .. .. .. .. ..
Tháng một, tháng chạp nên công hoàn toàn.
Rõ ràng cá chép là cá kép, cá cặp, cá chạp. Cá chép là cá tháng chạp. Do đó cá chép được dùng làm phương tiện về trời của ông Táo vào ngày hai mươi ba tháng chạp ta. Ngoài ra cá chép có râu mang nam tính, dương, lửa, môi mép, vẩy vi viền đỏ là con cá lửa. Cá chép còn gọi là cá gáy. Nếu hiểu gáy là tiếng hót thì gáy là biểu tượng cho đực, hùng tính. Con chim, con gà chỉ con đực mới gáy. Gáy biến âm với gay là đỏ. Ðỏ gay. Ðỏ là tỏ là mặt trời, lửa. Hán ngữ cá chép là lí ngư. Lí biến âm với li là lửa. Lí ngư là cá lửa. Như thế cá chép liên hệ tới lửa điều này giải thích tại sao ông Táo Thần Bếp lửa cỡi cá chép về trời.
Ông táo không mặc quần 
Cũng theo truyền thuyết ông Táo chỉ đội mũ, đi hia không mặc quần như thấy qua câu thơ của một nhà văn :
Ðội mũ đi hia, chẳng mặc quần.
Ðồ mã cúng ông Táo không bao giờ có quần. Câu ca dao dưới đây cho thấy ông Táo ở trong bếp lửa ấm cúng nên không cần nhiều đồ mặc, không cần quần và ở trong bếp nên cũng không phải lo về vấn đề ăn uống ; ông Táo không phải lo ăn, lo mặc nên chẳng phải lo gì nhiều so với ông Cả :
Ông Cả ngồi trên sập vàng,
Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo.
Ông Bếp ngồi trong đống tro,
ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm
.
Tại sao thần táo lại hai ông một bà ? 
Bây giờ ta hãy tìm xem tại sao bộ ba vị thần này lại hai ông một bà ? Câu chuyện Thần Bếp hai ông một bà này đã đi sâu vào đời sống dân dã Việt Nam. ở thôn quê Việt Nam cái bếp thường được làm bằng cách nặn ba cục đất sét gọi là ba ông đầu rau. Cục ở giữa có cái lỗ ấn lõm vào chỗ ngang người. Cái lỗ đó thường cho là cái lỗ rốn. Cục có rốn để ở giữa là bà Táo. Hai cục hai bên không có rốn là hai ông táo (x. phụ bản Nhà Bếp). Có một điều rất lấy làm lạ là tại sao chỉ có bà Táo mới có rốn còn hai ông Táo đàn ông lại không có rốn ? Chắc chắn cái rốn của bà Táo phải có một ý nghĩa gì bí ẩn đây ? Chúng ta sẽ thấy rõ ở dưới.
Cái thắc mắc nữa là tại sao lại gọi bộ ba ông bà Táo là ba ông đầu rau ? Xin thưa ’rau’ là biến âm với ’nhau’ như ta thấy qua từ lá nhau hay lá rau (placenta) của bà đẻ. Ba cái đầu rau là ba cái đầu nhau. Với h câm, ta có nhau là nau, là nấu. Ðầu rau là đầu nấu. Ba cái đầu rau là ba cái đầu để nấu.
Tại sao thần Táo lại hai ông một bà ? Mọi người đều tin như vậy, mà lại tin vào một chuyện tréo cẳng ngỗng là “hai ông một bà”. Xã hội của chúng ta trước đây là một xã hội đa thê chứ không chấp nhận đa phu :
Ðàn ông năm thê, bảy thiếp,
Gái chính chuyên chỉ có một chồng.

Luân lý xã hội thường thường khuyên chỉ nên có một vợ một chồng, không nên bắt chước vua Bếp hai ông một bà :
Thế gian một vợ một chồng,
Không như vua Bếp hai ông một bà
.
Câu chuyện này phải hợp với cương thường đạo lý thì mới phổ biến rộng rãi và tồn tại từ đời này qua đời nọ. Bắt buộc phải dựa vào một cái gì mà mọi người nhất là các nhà khoa bảng, quan quyền đồng ý như vậy. Ði tìm ’cái gì đó’, tôi đã tìm cách bắt mạch để chẩn đoán ba vị thần bếp hai ông một bà này. Úi da ! Chút nữa phỏng cả tay. Bộ ba thần bếp lửa có mạch Hỏa ! Mạch nóng bỏng cả tay. Hỏa là lửa. Lửa là Li. Li vi hỏa. Eureka ! Ðây chính là quẻ Li trong Dịch kinh. Quẻ Li gồm hai hào dương hình hai cái que, hai cái nọc kẹp ở giữa một hào âm tức cái que đứt đoạn. Nếu viết theo Việt Dịch Nòng Nọc thì hai hào dương là hai cái que và hào âm ở giữa là cái vòng tròn : (IOI), Li. Hai hào dương, hai cái nọc hai bên là hai ông Táo đực rựa. Còn hào âm ở giữa nếu viết theo Chu Dịch là cái que đứt đoạn là cái khe, cái kẽ, còn viết theo Việt Dịch Nòng Nọc là vòng tròn, là cái lỗ biểu tượng cho phái nữ tức bà Táo. Cái rốn ở cái đầu rau Táo bà chính là cái hào âm vòng tròn Nòng. Ðiều này giải thích tại sao bà Táo đầu rau có cái lỗ rốn. Ðây là cái rốn mang âm tính và dĩ nhiên hai ông Táo đầu rau không có cái rốn loại này. Như thế chuyện thần bếp hai ông một bà nguồn từ quẻ Li là lửa trong Kinh Dịch. Thần Li, Thần Lửa là Thần Bếp.
Quẻ Li viết theo Dịch Nòng nọc.
Hai hào dương hai bên là hai ông
Táo và hào âm ở giữa là bà Táo
Quẻ Li viết theo Chu Dịch
Tóm lại truyện bộ ba hai ông một bà Táo, Thần Bếp Lửa dựa trên quẻ Li (IOI), tức quẻ Lửa của Dịch kinh có mặt trong truyền thuyết Việt. Một lần nữa qua cái lỗ rốn tròn là hào âm nòng cho thấy Dịch Nòng Nọc âm dương đề huề là loại Dịch nòng cốt của đại tộc Việt coi âm dương đề huề hay hơn nữa coi mẹ hơn cha.
.

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN

TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 – 74)    
BLOG CỰU HỌC SINH BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                      Blog: chsbodelengoctam  –  Smail: lengoctam138@gmail.com
                              Phone: 0914.00.09.09 – 0125.68.68.108 – 0919.95.65.15


Tìm hiểu về Tết nguyên đán
Tết Nguyên đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Chữ "Tết" do chữ "Tiết" (節) mà thành. Hai chữ "Nguyên đán" (元旦) có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán" (Tết Nguyên đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết (春節), Tân niên (新年) hoặc Nông lịch tân niên (農曆新年).
Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.
Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
 Từ nguyên
 Nguyên nghĩa của từ "Tết" chính là "tiết". Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
Nguồn gốc ra đời
 Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.
Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT +7 làm chuẩn. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền nam thì ngày 30 tháng 1).
Quan niệm ngày Tết
 Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì đỏ thắm có đựng ít tiền dành cho chúng tiêu xài ngày Tết. Tết ở 3 miền Bắc, Trung, Nam ở Việt Nam cũng có những điều khác nhau.


Sự tích tiền mừng tuổi (lì xì) ngày Tết

Tặng tiền mừng tuổi vào dịp đầu năm, hay những dịp lễ, là một phong tục phổ biến ở các nước Đông Á. Phong tục này vốn phổ biến ở Việt Nam từ rất lâu vào dịp Tết Nguyên Đán, gọi là lì xì.

Vào những ngày Tết người lớn thường tặng cho trẻ con một khoản tiền nho nhỏ, bỏ trong phong bao màu đỏ in hoa văn rất đẹp thường có ý nghĩa tượng trưng cho may mắn và tài lộc, gọi là tiền mừng tuổi.

Truyện dân gian Trung Quốc kể lại, ngày xưa ở Đông Hải có một cây đào to, có rất nhiều yêu quái sống trong bộng cây, nào là hồ ly tinh, chuột tinh, sói già… Chúng luôn muốn ra ngoài để gây hại, nhưng bình thường luôn có các thần tiên ở hạ giới canh giữ chúng nên không con nào thoát ra ngoài được. Nhưng hễ tới đêm giao thừa, tất cả thần tiên đều phải về trời để phân công lại nhiệm vụ, thế là lũ yêu tinh có cơ hội tự do nhân lúc chuyển giao nhiệm vụ của các vị thần. Nhân cơ hội đó, có một loại yêu quái gọi là con Tuy thường xuất hiện vào đêm giao thừa để xoa đầu trẻ con đang ngủ khiến lũ trẻ giật mình, khóc thét lên và sẽ bị bệnh sốt cao hoặc ngớ ngẩn. Vì thế những gia đình có con nhỏ phải thức cả đêm để canh không cho con Tuy hại con mình.

Một lần, có mấy vị tiên đi ngang nhà kia, hóa thành những đồng tiền nằm bên chỗ đứa trẻ. Cha mẹ chúng đem gói những đồng tiền ấy vào vải đỏ. Khi con Tuy đến, những đồng tiền lóe sáng, nó sợ hãi bỏ chạy. Phép lạ này lan truyền ra, rồi cứ Tết đến, người ta lại bỏ tiền vào trong những chiếc túi màu đỏ tặng cho trẻ con. Tiền đó được gọi là tiền mừng tuổi.

Một truyền thuyết khác kể rằng, tục tặng tiền mừng tuổi bắt nguồn từ hoàng cung nhà Đường (Trung Quốc). Năm đó, Dương Quý Phi sinh hạ hoàng tử, được tin mừng vua Đường Huyền Tôn đích thân đến thăm và ban cho Dương Quý Phi một số vàng bạc gói trong giấy đỏ. Dương Quý Phi coi đó vừa là tiền mừng, vừa là chiếc bùa Hoàng đế ban tặng con trẻ để trừ tà. Việc này được đồn đại ra ngoài, từ cung đình lan rộng ra dân gian, nhiều người bắt chước tặng tiền mừng và cũng bắt đầu coi như tặng món lộc trừ tai họa, mang lại nhiều điều may mắn cho trẻ con.

Theo những nghiên cứu khác, tục mừng tuổi ở Trung Quốc đã có từ đời Tần. Vào thời gian đó, người ta dùng một sợi chỉ đỏ để xâu tiền thành một xâu theo hình con rồng hoặc thanh kiếm để ở chân giường hoặc cạnh gối trẻ em. Xâu tiền đó gọi là tiền Áp Tuế giống như cách gọi của người Trung Quốc ngày nay, có nghĩa là món tiền mừng cho đứa trẻ, với mong ước đứa trẻ được tiền, được lộc có thể vượt qua tuổi đó với những điều tốt lành và may mắn.

Xưa kia, ở Trung Quốc, tiền mừng tuổi thường là một vòng đỏ xâu 100 cắc tiền đồng, biểu hiện cho lời chúc sống lâu trăm tuổi. Ngày nay, tiền mừng tuổi đầu năm, còn có ý nghĩa tượng trưng cho sức khỏe, may mắn, thành đạt được cho vào phong bao bằng giấy đỏ hoặc vải nhung đỏ, có những trang trí mang nghĩa cát tường, hạnh phúc và những câu chúc, an lành, phát đạt như “Hòa gia bình an”, “Kim ngọc mãn đường”, “Vạn sự như ý”… Vì vậy, tặng tiền Áp Tuế còn được gọi là tặng Hồng Bao.

Từ lì xì trong tiếng Việt, sử dụng phổ biến ở miền Nam, được cho là có nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc, là cách đọc trại của từ “lợi thị” hoặc “lợi sự” (phát âm theo giọng Quan Thoại là li shi, theo giọng Quảng Đông là lì xì, lầy xì), có nghĩa gốc là một món đồ hay món tiền mang đến lợi lộc, vận tốt, vận may. Tặng lì xì là tặng món tiền thể hiện điều lành và may mắn cho đứa trẻ.

Ở Việt Nam, lì xì vốn chỉ là những đồng tiền xu bỏ trong phong bao giấy hồng điều, hoặc trang trí vàng son bắt mắt mà người lớn tặng cho trẻ con để chúng có cái rủng rẻng trong những ngày Tết vì tiếng cười của trẻ con có thể xua đuổi điều xấu. Vì vậy lì xì cũng có ý nghĩa cầu may, cầu phúc trong năm mới.

Theo tục lệ ở một số địa phương thì người nhỏ tuổi không lì xì người lớn hơn, vì vừa không đúng ý nghĩa, vừa bị cho là “hỗn”. Tuy nhiên, ngày nay, tục lì xì đã cởi mở hơn, đặc biệt những người nhỏ tuổi nhưng đã lập gia đình, đã có thu nhập thì có thể mừng tuổi cho những bậc cao niên như cha mẹ, ông bà, để chúc tụng may mắn, sức khỏe, bình an.


Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

THƯ MỜI HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG HÀNG NĂM 2014

TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 – 74)    
BLOG CỰU HỌC SINH BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                      Blog: chsbodelengoctam  –  Smail: lengoctam138@gmail.com
                              Phone: 0914.00.09.09 – 0125.68.68.108 – 0919.95.65.15
                       
ĐÓN MỪNG XUÂN MỚI NĂM GIÁP NGỌ 2014
   BAN LIÊN LẠC CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
                                               NIÊN KHÓA 1967 – 1974
 KÍNH CHÚC TẤT CẢ QUÝ THẦY , CÔ GIÁO VÀ ANH CHI EM CHS/BỒ ĐỀ ĐN
 SỨC KHỎE AN LÀNH AN TOÀN AN KHANG THỊNH VƯỢNG

          Nhân dmng xuân Giáp NgTrân trng Kính mi

Quý Thầy Cô; Là Giáo viên qua các thời kỳ
Các Anh Chị Em là cựu học sinh Trung học Bồ Đề qua các niên khóa;
Các bạn là CHS Trung học Bồ Đề (NK 67 - 74) Trong Nước và ở Nước ngoài 
Thời gian: 15h00 ngày 06/02/2014 (Nhằm ngày Mồng 6 tết Âm lịch Xuân Giáp Ngọ)
Địa điểm: Nhà hàng Hải Phố, 85 Trần Cao Vân, Quận Thanh Khê TP Đà Nẵng.
Để dự buổi họp mặt thường niên lần thứ 24 của CHS TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG  (NK 1967 – 1974).
       Kinh phí tổ chức: Do sự đóng góp của các bạn là CHS.BỒ ĐỀ thuộc liên lớp (NK 1967-1974).Và (Với ý nguyện để hình thành quỹ liên lạc, hiếu hỷ của lớpBLL kêu gọi sự nhiệt tình, hổ trợ của các bạn là mạnh thường quân trong Nước và Nước ngoài để buổi họp mặt thành công tốt đẹp trong tinh thần tương trợ và thân ái nhất. 
Chân thành được đón tiếp với mong muốn được hội ngộ những khuôn mặt thân yêu của thời cắp sách đến trường để cùng nhau hoài niệm lại những năm tháng của tuổi học trò với áo trắng quần xanh và Hân hạnh được gặp mặt, tri ân quý Thầy Cô giáo của một thời đã dạy dổ, truyền đạt để chúng ta có được vốn kiến thức hoàn thiện cho cuộc sống như hôm nay.
       
           (Liên hệ: Chị B.Hoa – 0908.898.075. Ngọc Lan – 0909.095.099, Ngọc Tâm: 0914.00.09.09.)

                                                                      Trân trọng được đón tiếp
Ghi chú: Để chuẩn bị cho tập kỷ yếu             TM-BLL/CHS TH Bồ Đề ĐN (NK67 – 74)
       Kỹ niệm 50 năm thành lập Trường.                           
       Khi đi các bạn nhớ mang theo 2                                          LÊ NGỌC TÂM
       tấm ảnh 3x4 nộp cho Ban liên lạc.. 





  

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG - GIÁP NGỌ 2014

      
  TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 – 74)    
BLOG CỰU HỌC SINH BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                      Blog: chsbodelengoctam  –  Smail: lengoctam138@gmail.com
                              Phone: 0914.00.09.09 – 0125.68.68.108 – 0919.95.65.15

                                MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG 2014

Ý NGHĨA CỦA MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG


      Chữ Mã có nghĩa là ngựa;
      Chữ Đáo có nghĩa giống như chữ đáo hạn hay đến hạn, dịch theo nghĩa khác có nghĩa là trở về;     
      Chữ Thành Công có nghĩa là thắng lợi, đạt được điều mong muốn. 
      Mã Đáo Thành Công có nghĩa tiếng Việt là "ngựa quay trở về là thành công!
      Nguyên do dẫn đến thành ngữ " Mã đáo thành công" đó là:
      Ngày xưa, người Trung Hoa trên ở phương Bắc sinh sống trên các bình nguyên, đồng cỏ, nơi mà có rất nhiều ngựa hoang. Đến mùa xuân hàng năm, người ta thường thả ngựa nuôi (đã được thuần phục) để vào các cánh đồng, bình nguyên hay các khu rừng để có thể dụ được ngựa hoang kéo đàn về lại trang trại của mình. 
     Một khi thả ngựa nuôi của mình ra thì có nhiều khả năng xảy ra: hoặc là ngựa mình đi mất mà không trở về (có thể bị thú dữ ăn thịt, có thể bị người ta bắt hay có thể nhập đàn với ngựa hoang đi luôn...) hoặc là quay trở về và có thể dẫn theo ngựa hoang nữa! Vì vậy, vào mùa thu và mùa đông, nếu ngựa quay trở về thì có nghĩa là mình đã thắng lợi trong việc vẫn giữ được con ngựa của mình (trước cái đã, ít nhất là không mất nó), sau đó là có thêm ngựa nữa (có thể là 1 hay nhiều con)!

MÃ ĐÁO ...
      Ngựa là con vật trung thành nhất, không những thế ngựa còn là hình ảnh của sự kiễn nhẫn, sự bền bỉ, lâu dài, sự may mắn mang lại tài lộc, ngựa đứng hàng thứ 7 trong 12 địa chi. Nó đem lại nguồn tài lộc, sự phát đạt trong kinh doanh, sự nhanh nhạy và tăng tiến tiền tài, khiến những công việc dự định sẽ nhanh chóng hoàn thành hơn dự kiến và đạt kết quả cao hơn mong muốn. Dùng cho những người hay đi xa, chuyến đi thành công tốt đẹp.
      Trong đầu tư kinh doanh thì nó mang lại lợi lộc lớn cho chủ nhân. Ngựa đá mang nguyên khí của THỔ là nguyên khí vủa vận 8 nên rất mạnh. Đây là vật khí dùng bổ trợ cho Phong Thuỷ nhà ở, văn phòng, cửa hàng rất hiệu quả.
     Bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công).
Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công.
    Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn) chứ không có ý là mau chóng thành công nhờ... cứa cổ khách hàng.
    Năm 1789, sau khi đánh tan quân Thanh, vua Quang Trung đưa quân vào thành, mùng 5 tết mừng xuân. Để báo tin thắng trận, vua đã cho người mang một cành đào, cưỡi ngựa truyền qua các trạm ngày đêm chuyển cành đào về cho công chúa Ngọc Hân. Đó cũng là MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG.
...THÀNH CÔNG.



Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 - 74)
BLOG CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                                     Blog: chsbodelengoctam  - Smail: lengoctam138@gmail.come 
                            LIÊN HỆ : LÊ NGỌC TÂM, 138 ĐỐNG ĐA, Q. HẢI CHÂU TP ĐÀ NẴNG
                                              ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108





ĐÓN MỪNG XUÂN MỚI NĂM GIÁP NGỌ 2014

   BAN LIÊN LẠC CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
                                               NIÊN KHÓA 1967 – 1974
 KÍNH CHÚC TẤT CẢ QUÝ THẦY , CÔ GIÁO VÀ ANH CHI EM CHS/BỒ ĐỀ ĐN
 SỨC KHỎE AN LÀNH AN TOÀN AN KHANG THỊNH VƯỢNG

          Nhân dp mng xuân Giáp Ng, Trân trng Kính mi

Quý Thầy Cô; Là Giáo viên qua các thời kỳ
Các Anh Chị Em là cựu học sinh Trung học Bồ Đề qua các niên khóa;
Các bạn là CHS Trung học Bồ Đề (NK 67 - 74) Trong Nước và ở Nước ngoài 
Thời gian: 15h00 ngày 06/02/2014 (Nhằm ngày Mồng 6 tết Âm lịch Xuân Giáp Ngọ)
Địa điểm: Nhà hàng Hải Phố, 85 Trần Cao Vân, Quận Thanh Khê TP Đà Nẵng.
Để dự buổi họp mặt thường niên lần thứ 24 của CHS TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG  (NK 1967 – 1974).
       Kinh phí tổ chức: Do sự đóng góp của các bạn là CHS.BỒ ĐỀ thuộc liên lớp (NK 1967-1974).Và (Với ý nguyện để hình thành quỹ liên lạc, hiếu hỷ của lớpBLL kêu gọi sự nhiệt tình, hổ trợ của các bạn là mạnh thường quân trong Nước và Nước ngoài để buổi họp mặt thành công tốt đẹp trong tinh thần tương trợ và thân ái nhất. 
Chân thành được đón tiếp với mong muốn được hội ngộ những khuôn mặt thân yêu của thời cắp sách đến trường để cùng nhau hoài niệm lại những năm tháng của tuổi học trò với áo trắng quần xanh và Hân hạnh được gặp mặt, tri ân quý Thầy Cô giáo của một thời đã dạy dổ, truyền đạt để chúng ta có được vốn kiến thức hoàn thiện cho cuộc sống như hôm nay.
       
           (Liên hệ: Chị B.Hoa – 0908.898.075. Ngọc Lan – 0909.095.099, Ngọc Tâm: 0914.00.09.09.)

                                                                      Trân trọng được đón tiếp
Ghi chú: Để chuẩn bị cho tập kỷ yếu             TM-BLL/CHS TH Bồ Đề ĐN (NK67 – 74)
       Kỹ niệm 50 năm thành lập Trường.                           
       Khi đi các bạn nhớ mang theo 2                                          LÊ NGỌC TÂM
       tấm ảnh 3x4 nộp cho Ban liên lạc..   


Blog: chsbodelengoctam  - Smail: lengoctam138@gmail.come



Nguồn gốc tết nguyên đán
Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vươngnhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm.Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.
Đời nhà Đông ChuKhổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Cho đến khi nhà HánHán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tứctháng giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy tháng giêng (8 ngày).
Nguồn gốc Tết Nguyên đán ở nước ta
Truyền thuyết và lịch sử cho thấy: Họ Hồng Bàng dựng n­ước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879 trư­ớc công nguyên, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dư­ơng Vư­ơng sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vư­ơng. Từ thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Bắt đầu có bánh chư­ng, bánh dầy nhờ sáng kiến của Lang Liêu - con trai thứ 18 của vua Hùng Vư­ơng 6. Có thể nói, nư­ớc ta sớm hình thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của ngư­ời Việt. Nền văn hoá với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nư­ớc, cùng những sản vật từ lúa gạo. Gạo - thứ thực phẩm chính nuôi sống con ngư­ời, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất, thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp đ­ược chọn để làm thành các thứ bánh dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm. Thực ra, cho đến nay, nói một cách chính xác dân ta ăn Tết bắt đầu từ khi nào không ai nắm rõ. Lịch sử Trung Hoa viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang - quan nư­ớc Tàu sang n­ước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng: Tr­ước khi ngư­ời Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc.
Thứ nhất:Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa - nhất nhất theo Khổng giáo. Việc truyền ngôi cho con trai thứ 18 đã chứng tỏ sự khác biệt của dân tộc Việt với dân tộc Hoa. Thông thường các hoàng đế truyền lại ngôi cho vị hoàng tử cả như­ng Hùng V­ương thứ 6 của n­ước Văn Lang không theo nguyên tắc đó, ông chọn ngư­ời kế vị trị vì đất nư­ớc thay mình là ng­ười hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ.
Thứ hai:Lang Liêu là một hoàng tử, đư­ơng nhiên phải là ngư­ời đư­ợc tiếp thu, thấm nhuần văn hoá dân tộc và tư­ duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng, dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với ngư­ời Hoa. Bánh chư­ng vuông tư­ợng trư­ng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông vắn - nơi người dân trồng cây lúa nư­ớc nuôi sống chính mình. Bánh giày tượng trưng cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông liên tiếp. Ngư­ời Hoa th­ường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói toán trừu t­ượng, đôi khi như­ ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.
Như­ vậy, có thể nói Tết cổ truyền của Việt Nam phải hình thành từ trư­ớc thế kỷ thứ nhất, không phải do ngư­ời Hoa khai hoá hay đồng hoá.Tuy nhiên, do cùng nằm chung vùng lục địa, lại nằm kề nhau nên không thể không mang những ảnh hư­ởng của nhau. Sau này, khi Trung Hoa đô hộ nư­ớc ta nhiều năm liền những ảnh h­ưởng đó càng lớn hơn. Song về cơ bản bánh chư­ng, bánh giày là đặc tr­ưng của dân tộc Việt. Trong ngày Tết cổ truyền có thể thiếu câu đối đỏ song không thể không có bánh ch­ưng xanh để cúng tế tổ tiên.
Ngày nay, Việt Nam quy định viên chức và công nhân lao động được nghỉ Tết vào ngày 29 hoặc ngày 30 trước Tết và từ mùng Mộtđến mùng Ba (tổng cộng 4 ngày). Việt kiều sinh sống tại Âu Châu hay Bắc Mỹ hoặc chỉ giữ ngày mùng Một hoặc tổ chức Tết vào ngày cuối tuần gần nhất.
Ngoài ra, người ta thường nói "20 Tết", "15 Tết"... đây chỉ là nói những ngày ảnh hưởng do những công việc để chuẩn bị đón Tết hay dư âm còn lại của những ngày Tết.
Nguyên nghĩa của Tết chính là "tiết".Văn hóa Việt – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
Ngày nay, cùng với người Hoangười Việt, các dân tộc khác chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa như Triều TiênMông CổTây TạngNepalBhutanH'mông Trung Quốc cũng tổ chức Tết âm lịch và nghỉ lễ chính thức. Trước đây Nhật Bản cũng cử hành Tết âm lịch, nhưng từ năm Minh Trị thứ 6 (1873) họ đã chuyển sang dùng dương lịch cho các ngày lễ tương ứng trong âm lịch.

(Sưu tầm & tổng hợp)