Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN

TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 – 74)    
BLOG CỰU HỌC SINH BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                      Blog: chsbodelengoctam  –  Smail: lengoctam138@gmail.com
                              Phone: 0914.00.09.09 – 0125.68.68.108 – 0919.95.65.15


Tìm hiểu về Tết nguyên đán
Tết Nguyên đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Chữ "Tết" do chữ "Tiết" (節) mà thành. Hai chữ "Nguyên đán" (元旦) có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán" (Tết Nguyên đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết (春節), Tân niên (新年) hoặc Nông lịch tân niên (農曆新年).
Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.
Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
 Từ nguyên
 Nguyên nghĩa của từ "Tết" chính là "tiết". Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
Nguồn gốc ra đời
 Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.
Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT +7 làm chuẩn. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền nam thì ngày 30 tháng 1).
Quan niệm ngày Tết
 Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì đỏ thắm có đựng ít tiền dành cho chúng tiêu xài ngày Tết. Tết ở 3 miền Bắc, Trung, Nam ở Việt Nam cũng có những điều khác nhau.


Sự tích tiền mừng tuổi (lì xì) ngày Tết

Tặng tiền mừng tuổi vào dịp đầu năm, hay những dịp lễ, là một phong tục phổ biến ở các nước Đông Á. Phong tục này vốn phổ biến ở Việt Nam từ rất lâu vào dịp Tết Nguyên Đán, gọi là lì xì.

Vào những ngày Tết người lớn thường tặng cho trẻ con một khoản tiền nho nhỏ, bỏ trong phong bao màu đỏ in hoa văn rất đẹp thường có ý nghĩa tượng trưng cho may mắn và tài lộc, gọi là tiền mừng tuổi.

Truyện dân gian Trung Quốc kể lại, ngày xưa ở Đông Hải có một cây đào to, có rất nhiều yêu quái sống trong bộng cây, nào là hồ ly tinh, chuột tinh, sói già… Chúng luôn muốn ra ngoài để gây hại, nhưng bình thường luôn có các thần tiên ở hạ giới canh giữ chúng nên không con nào thoát ra ngoài được. Nhưng hễ tới đêm giao thừa, tất cả thần tiên đều phải về trời để phân công lại nhiệm vụ, thế là lũ yêu tinh có cơ hội tự do nhân lúc chuyển giao nhiệm vụ của các vị thần. Nhân cơ hội đó, có một loại yêu quái gọi là con Tuy thường xuất hiện vào đêm giao thừa để xoa đầu trẻ con đang ngủ khiến lũ trẻ giật mình, khóc thét lên và sẽ bị bệnh sốt cao hoặc ngớ ngẩn. Vì thế những gia đình có con nhỏ phải thức cả đêm để canh không cho con Tuy hại con mình.

Một lần, có mấy vị tiên đi ngang nhà kia, hóa thành những đồng tiền nằm bên chỗ đứa trẻ. Cha mẹ chúng đem gói những đồng tiền ấy vào vải đỏ. Khi con Tuy đến, những đồng tiền lóe sáng, nó sợ hãi bỏ chạy. Phép lạ này lan truyền ra, rồi cứ Tết đến, người ta lại bỏ tiền vào trong những chiếc túi màu đỏ tặng cho trẻ con. Tiền đó được gọi là tiền mừng tuổi.

Một truyền thuyết khác kể rằng, tục tặng tiền mừng tuổi bắt nguồn từ hoàng cung nhà Đường (Trung Quốc). Năm đó, Dương Quý Phi sinh hạ hoàng tử, được tin mừng vua Đường Huyền Tôn đích thân đến thăm và ban cho Dương Quý Phi một số vàng bạc gói trong giấy đỏ. Dương Quý Phi coi đó vừa là tiền mừng, vừa là chiếc bùa Hoàng đế ban tặng con trẻ để trừ tà. Việc này được đồn đại ra ngoài, từ cung đình lan rộng ra dân gian, nhiều người bắt chước tặng tiền mừng và cũng bắt đầu coi như tặng món lộc trừ tai họa, mang lại nhiều điều may mắn cho trẻ con.

Theo những nghiên cứu khác, tục mừng tuổi ở Trung Quốc đã có từ đời Tần. Vào thời gian đó, người ta dùng một sợi chỉ đỏ để xâu tiền thành một xâu theo hình con rồng hoặc thanh kiếm để ở chân giường hoặc cạnh gối trẻ em. Xâu tiền đó gọi là tiền Áp Tuế giống như cách gọi của người Trung Quốc ngày nay, có nghĩa là món tiền mừng cho đứa trẻ, với mong ước đứa trẻ được tiền, được lộc có thể vượt qua tuổi đó với những điều tốt lành và may mắn.

Xưa kia, ở Trung Quốc, tiền mừng tuổi thường là một vòng đỏ xâu 100 cắc tiền đồng, biểu hiện cho lời chúc sống lâu trăm tuổi. Ngày nay, tiền mừng tuổi đầu năm, còn có ý nghĩa tượng trưng cho sức khỏe, may mắn, thành đạt được cho vào phong bao bằng giấy đỏ hoặc vải nhung đỏ, có những trang trí mang nghĩa cát tường, hạnh phúc và những câu chúc, an lành, phát đạt như “Hòa gia bình an”, “Kim ngọc mãn đường”, “Vạn sự như ý”… Vì vậy, tặng tiền Áp Tuế còn được gọi là tặng Hồng Bao.

Từ lì xì trong tiếng Việt, sử dụng phổ biến ở miền Nam, được cho là có nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc, là cách đọc trại của từ “lợi thị” hoặc “lợi sự” (phát âm theo giọng Quan Thoại là li shi, theo giọng Quảng Đông là lì xì, lầy xì), có nghĩa gốc là một món đồ hay món tiền mang đến lợi lộc, vận tốt, vận may. Tặng lì xì là tặng món tiền thể hiện điều lành và may mắn cho đứa trẻ.

Ở Việt Nam, lì xì vốn chỉ là những đồng tiền xu bỏ trong phong bao giấy hồng điều, hoặc trang trí vàng son bắt mắt mà người lớn tặng cho trẻ con để chúng có cái rủng rẻng trong những ngày Tết vì tiếng cười của trẻ con có thể xua đuổi điều xấu. Vì vậy lì xì cũng có ý nghĩa cầu may, cầu phúc trong năm mới.

Theo tục lệ ở một số địa phương thì người nhỏ tuổi không lì xì người lớn hơn, vì vừa không đúng ý nghĩa, vừa bị cho là “hỗn”. Tuy nhiên, ngày nay, tục lì xì đã cởi mở hơn, đặc biệt những người nhỏ tuổi nhưng đã lập gia đình, đã có thu nhập thì có thể mừng tuổi cho những bậc cao niên như cha mẹ, ông bà, để chúc tụng may mắn, sức khỏe, bình an.


Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

THƯ MỜI HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG HÀNG NĂM 2014

TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 – 74)    
BLOG CỰU HỌC SINH BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                      Blog: chsbodelengoctam  –  Smail: lengoctam138@gmail.com
                              Phone: 0914.00.09.09 – 0125.68.68.108 – 0919.95.65.15
                       
ĐÓN MỪNG XUÂN MỚI NĂM GIÁP NGỌ 2014
   BAN LIÊN LẠC CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
                                               NIÊN KHÓA 1967 – 1974
 KÍNH CHÚC TẤT CẢ QUÝ THẦY , CÔ GIÁO VÀ ANH CHI EM CHS/BỒ ĐỀ ĐN
 SỨC KHỎE AN LÀNH AN TOÀN AN KHANG THỊNH VƯỢNG

          Nhân dmng xuân Giáp NgTrân trng Kính mi

Quý Thầy Cô; Là Giáo viên qua các thời kỳ
Các Anh Chị Em là cựu học sinh Trung học Bồ Đề qua các niên khóa;
Các bạn là CHS Trung học Bồ Đề (NK 67 - 74) Trong Nước và ở Nước ngoài 
Thời gian: 15h00 ngày 06/02/2014 (Nhằm ngày Mồng 6 tết Âm lịch Xuân Giáp Ngọ)
Địa điểm: Nhà hàng Hải Phố, 85 Trần Cao Vân, Quận Thanh Khê TP Đà Nẵng.
Để dự buổi họp mặt thường niên lần thứ 24 của CHS TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG  (NK 1967 – 1974).
       Kinh phí tổ chức: Do sự đóng góp của các bạn là CHS.BỒ ĐỀ thuộc liên lớp (NK 1967-1974).Và (Với ý nguyện để hình thành quỹ liên lạc, hiếu hỷ của lớpBLL kêu gọi sự nhiệt tình, hổ trợ của các bạn là mạnh thường quân trong Nước và Nước ngoài để buổi họp mặt thành công tốt đẹp trong tinh thần tương trợ và thân ái nhất. 
Chân thành được đón tiếp với mong muốn được hội ngộ những khuôn mặt thân yêu của thời cắp sách đến trường để cùng nhau hoài niệm lại những năm tháng của tuổi học trò với áo trắng quần xanh và Hân hạnh được gặp mặt, tri ân quý Thầy Cô giáo của một thời đã dạy dổ, truyền đạt để chúng ta có được vốn kiến thức hoàn thiện cho cuộc sống như hôm nay.
       
           (Liên hệ: Chị B.Hoa – 0908.898.075. Ngọc Lan – 0909.095.099, Ngọc Tâm: 0914.00.09.09.)

                                                                      Trân trọng được đón tiếp
Ghi chú: Để chuẩn bị cho tập kỷ yếu             TM-BLL/CHS TH Bồ Đề ĐN (NK67 – 74)
       Kỹ niệm 50 năm thành lập Trường.                           
       Khi đi các bạn nhớ mang theo 2                                          LÊ NGỌC TÂM
       tấm ảnh 3x4 nộp cho Ban liên lạc.. 





  

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG - GIÁP NGỌ 2014

      
  TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 – 74)    
BLOG CỰU HỌC SINH BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                      Blog: chsbodelengoctam  –  Smail: lengoctam138@gmail.com
                              Phone: 0914.00.09.09 – 0125.68.68.108 – 0919.95.65.15

                                MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG 2014

Ý NGHĨA CỦA MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG


      Chữ Mã có nghĩa là ngựa;
      Chữ Đáo có nghĩa giống như chữ đáo hạn hay đến hạn, dịch theo nghĩa khác có nghĩa là trở về;     
      Chữ Thành Công có nghĩa là thắng lợi, đạt được điều mong muốn. 
      Mã Đáo Thành Công có nghĩa tiếng Việt là "ngựa quay trở về là thành công!
      Nguyên do dẫn đến thành ngữ " Mã đáo thành công" đó là:
      Ngày xưa, người Trung Hoa trên ở phương Bắc sinh sống trên các bình nguyên, đồng cỏ, nơi mà có rất nhiều ngựa hoang. Đến mùa xuân hàng năm, người ta thường thả ngựa nuôi (đã được thuần phục) để vào các cánh đồng, bình nguyên hay các khu rừng để có thể dụ được ngựa hoang kéo đàn về lại trang trại của mình. 
     Một khi thả ngựa nuôi của mình ra thì có nhiều khả năng xảy ra: hoặc là ngựa mình đi mất mà không trở về (có thể bị thú dữ ăn thịt, có thể bị người ta bắt hay có thể nhập đàn với ngựa hoang đi luôn...) hoặc là quay trở về và có thể dẫn theo ngựa hoang nữa! Vì vậy, vào mùa thu và mùa đông, nếu ngựa quay trở về thì có nghĩa là mình đã thắng lợi trong việc vẫn giữ được con ngựa của mình (trước cái đã, ít nhất là không mất nó), sau đó là có thêm ngựa nữa (có thể là 1 hay nhiều con)!

MÃ ĐÁO ...
      Ngựa là con vật trung thành nhất, không những thế ngựa còn là hình ảnh của sự kiễn nhẫn, sự bền bỉ, lâu dài, sự may mắn mang lại tài lộc, ngựa đứng hàng thứ 7 trong 12 địa chi. Nó đem lại nguồn tài lộc, sự phát đạt trong kinh doanh, sự nhanh nhạy và tăng tiến tiền tài, khiến những công việc dự định sẽ nhanh chóng hoàn thành hơn dự kiến và đạt kết quả cao hơn mong muốn. Dùng cho những người hay đi xa, chuyến đi thành công tốt đẹp.
      Trong đầu tư kinh doanh thì nó mang lại lợi lộc lớn cho chủ nhân. Ngựa đá mang nguyên khí của THỔ là nguyên khí vủa vận 8 nên rất mạnh. Đây là vật khí dùng bổ trợ cho Phong Thuỷ nhà ở, văn phòng, cửa hàng rất hiệu quả.
     Bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công).
Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công.
    Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn) chứ không có ý là mau chóng thành công nhờ... cứa cổ khách hàng.
    Năm 1789, sau khi đánh tan quân Thanh, vua Quang Trung đưa quân vào thành, mùng 5 tết mừng xuân. Để báo tin thắng trận, vua đã cho người mang một cành đào, cưỡi ngựa truyền qua các trạm ngày đêm chuyển cành đào về cho công chúa Ngọc Hân. Đó cũng là MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG.
...THÀNH CÔNG.



Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS BỒ ĐỀ (NK 67 - 74)
BLOG CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
                                     Blog: chsbodelengoctam  - Smail: lengoctam138@gmail.come 
                            LIÊN HỆ : LÊ NGỌC TÂM, 138 ĐỐNG ĐA, Q. HẢI CHÂU TP ĐÀ NẴNG
                                              ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108





ĐÓN MỪNG XUÂN MỚI NĂM GIÁP NGỌ 2014

   BAN LIÊN LẠC CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
                                               NIÊN KHÓA 1967 – 1974
 KÍNH CHÚC TẤT CẢ QUÝ THẦY , CÔ GIÁO VÀ ANH CHI EM CHS/BỒ ĐỀ ĐN
 SỨC KHỎE AN LÀNH AN TOÀN AN KHANG THỊNH VƯỢNG

          Nhân dp mng xuân Giáp Ng, Trân trng Kính mi

Quý Thầy Cô; Là Giáo viên qua các thời kỳ
Các Anh Chị Em là cựu học sinh Trung học Bồ Đề qua các niên khóa;
Các bạn là CHS Trung học Bồ Đề (NK 67 - 74) Trong Nước và ở Nước ngoài 
Thời gian: 15h00 ngày 06/02/2014 (Nhằm ngày Mồng 6 tết Âm lịch Xuân Giáp Ngọ)
Địa điểm: Nhà hàng Hải Phố, 85 Trần Cao Vân, Quận Thanh Khê TP Đà Nẵng.
Để dự buổi họp mặt thường niên lần thứ 24 của CHS TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG  (NK 1967 – 1974).
       Kinh phí tổ chức: Do sự đóng góp của các bạn là CHS.BỒ ĐỀ thuộc liên lớp (NK 1967-1974).Và (Với ý nguyện để hình thành quỹ liên lạc, hiếu hỷ của lớpBLL kêu gọi sự nhiệt tình, hổ trợ của các bạn là mạnh thường quân trong Nước và Nước ngoài để buổi họp mặt thành công tốt đẹp trong tinh thần tương trợ và thân ái nhất. 
Chân thành được đón tiếp với mong muốn được hội ngộ những khuôn mặt thân yêu của thời cắp sách đến trường để cùng nhau hoài niệm lại những năm tháng của tuổi học trò với áo trắng quần xanh và Hân hạnh được gặp mặt, tri ân quý Thầy Cô giáo của một thời đã dạy dổ, truyền đạt để chúng ta có được vốn kiến thức hoàn thiện cho cuộc sống như hôm nay.
       
           (Liên hệ: Chị B.Hoa – 0908.898.075. Ngọc Lan – 0909.095.099, Ngọc Tâm: 0914.00.09.09.)

                                                                      Trân trọng được đón tiếp
Ghi chú: Để chuẩn bị cho tập kỷ yếu             TM-BLL/CHS TH Bồ Đề ĐN (NK67 – 74)
       Kỹ niệm 50 năm thành lập Trường.                           
       Khi đi các bạn nhớ mang theo 2                                          LÊ NGỌC TÂM
       tấm ảnh 3x4 nộp cho Ban liên lạc..   


Blog: chsbodelengoctam  - Smail: lengoctam138@gmail.come



Nguồn gốc tết nguyên đán
Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vươngnhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm.Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.
Đời nhà Đông ChuKhổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Cho đến khi nhà HánHán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tứctháng giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy tháng giêng (8 ngày).
Nguồn gốc Tết Nguyên đán ở nước ta
Truyền thuyết và lịch sử cho thấy: Họ Hồng Bàng dựng n­ước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879 trư­ớc công nguyên, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dư­ơng Vư­ơng sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vư­ơng. Từ thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Bắt đầu có bánh chư­ng, bánh dầy nhờ sáng kiến của Lang Liêu - con trai thứ 18 của vua Hùng Vư­ơng 6. Có thể nói, nư­ớc ta sớm hình thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của ngư­ời Việt. Nền văn hoá với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nư­ớc, cùng những sản vật từ lúa gạo. Gạo - thứ thực phẩm chính nuôi sống con ngư­ời, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất, thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp đ­ược chọn để làm thành các thứ bánh dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm. Thực ra, cho đến nay, nói một cách chính xác dân ta ăn Tết bắt đầu từ khi nào không ai nắm rõ. Lịch sử Trung Hoa viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang - quan nư­ớc Tàu sang n­ước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng: Tr­ước khi ngư­ời Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc.
Thứ nhất:Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa - nhất nhất theo Khổng giáo. Việc truyền ngôi cho con trai thứ 18 đã chứng tỏ sự khác biệt của dân tộc Việt với dân tộc Hoa. Thông thường các hoàng đế truyền lại ngôi cho vị hoàng tử cả như­ng Hùng V­ương thứ 6 của n­ước Văn Lang không theo nguyên tắc đó, ông chọn ngư­ời kế vị trị vì đất nư­ớc thay mình là ng­ười hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ.
Thứ hai:Lang Liêu là một hoàng tử, đư­ơng nhiên phải là ngư­ời đư­ợc tiếp thu, thấm nhuần văn hoá dân tộc và tư­ duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng, dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với ngư­ời Hoa. Bánh chư­ng vuông tư­ợng trư­ng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông vắn - nơi người dân trồng cây lúa nư­ớc nuôi sống chính mình. Bánh giày tượng trưng cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông liên tiếp. Ngư­ời Hoa th­ường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói toán trừu t­ượng, đôi khi như­ ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.
Như­ vậy, có thể nói Tết cổ truyền của Việt Nam phải hình thành từ trư­ớc thế kỷ thứ nhất, không phải do ngư­ời Hoa khai hoá hay đồng hoá.Tuy nhiên, do cùng nằm chung vùng lục địa, lại nằm kề nhau nên không thể không mang những ảnh hư­ởng của nhau. Sau này, khi Trung Hoa đô hộ nư­ớc ta nhiều năm liền những ảnh h­ưởng đó càng lớn hơn. Song về cơ bản bánh chư­ng, bánh giày là đặc tr­ưng của dân tộc Việt. Trong ngày Tết cổ truyền có thể thiếu câu đối đỏ song không thể không có bánh ch­ưng xanh để cúng tế tổ tiên.
Ngày nay, Việt Nam quy định viên chức và công nhân lao động được nghỉ Tết vào ngày 29 hoặc ngày 30 trước Tết và từ mùng Mộtđến mùng Ba (tổng cộng 4 ngày). Việt kiều sinh sống tại Âu Châu hay Bắc Mỹ hoặc chỉ giữ ngày mùng Một hoặc tổ chức Tết vào ngày cuối tuần gần nhất.
Ngoài ra, người ta thường nói "20 Tết", "15 Tết"... đây chỉ là nói những ngày ảnh hưởng do những công việc để chuẩn bị đón Tết hay dư âm còn lại của những ngày Tết.
Nguyên nghĩa của Tết chính là "tiết".Văn hóa Việt – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
Ngày nay, cùng với người Hoangười Việt, các dân tộc khác chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa như Triều TiênMông CổTây TạngNepalBhutanH'mông Trung Quốc cũng tổ chức Tết âm lịch và nghỉ lễ chính thức. Trước đây Nhật Bản cũng cử hành Tết âm lịch, nhưng từ năm Minh Trị thứ 6 (1873) họ đã chuyển sang dùng dương lịch cho các ngày lễ tương ứng trong âm lịch.

(Sưu tầm & tổng hợp)

                                

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

CÁCH CHỬA CẤP CỨU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

TRANG THÔNG TIN CỦA LÊ NGỌC TÂM  (CHS BỒ ĐỀ NK 67 - 74)
               BLOG CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM 
                 BLOG: CHSBODELENGOCTAM - EMAIL: LENGOCTAM138@GMAIL.COM 
                     LIÊN HỆ : LÊ NGỌC TÂM, 138 ĐỐNG ĐA, Q. HẢI CHÂU TP ĐÀ NẴNG
                                     ĐT: 0914.000.909 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108

MC (giuậy) LÊ THỊ LÝ

Cấp cứu  bệnh tai biến mạch máu não
Chỉ với một cây kim, ta có thể cứu được mạng người.
Nguồn từ Thầy Trần Trọng Toàn
Gởi đến các bạn.
Irene Liu
(Lang Vườn trích dịch)
Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-Tế săn sóc.
Chỉ cần một ống tim thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke). Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng và hữu hiêu. Chúng ta chỉ cần vài phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.
Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.
Cô Irene Liu kể chuyện: “Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì Ông là bệnh nhân của bệnh tai biến mạch máu não. Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước. Khi tai biến mạch máu não xảy ra, tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.”
Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuống quít. Ðiều quan trọng nhất là
 ÐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu.
Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu.”
Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gút, cũng có thể giúp chúng ta được.
1- Trước hết chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa(bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.
2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly(milimetre).
3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.
4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.
5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.
6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lổ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.
7- Chích vào dái tai (ear lobe) hai mũi kim mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.
Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bi vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ. mà thôi. Cô Liu nói tiếp: “Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Ðông Y tên Hà Bảo Ðịnh (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa.
Vì thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại Ðại Học Fung-Gaap tại Ðài Trung. Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một Giáo Sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói ‘Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám Sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não’
Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám Sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, Ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não. Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Ðại Học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu. Sau vài phút, mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên dái tai hai mũi kim để hai giọt máu tươm ra.
Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường. Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy Hoa gần đó. Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc. Sau đó mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó. Trái lại các nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện. Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.”
Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt
đời. Ðó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đở những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.
Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.
NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN DẪN ĐẾN TBMMN
1- Nguyên nhân:
- Những người bị cao huyết áp.
- Xơ vữa động mạch: Thường ở những người béo mập, những người nghiện bia, rượu, hút thuốc lá...
- Những người bị các bệnh về tim, mạch (hẹp, hở van tim, van động mạch chủ, động mạch phổi...)
2- Điều kiện (còn gọi là nguyên nhân tức thời để TBMMN dễ xảy ra)
- Tình trạng thần kinh căng thẳng (tức giận, lo âu, buồn vui quá độ...)
- Say bia, say rượu, say thuốc lá.
- Nhiễm lạnh đột ngột (khi tắm, bị gió lùa).
NHỮNG DẦU HIỆU BÁO TRƯỚC KHI BỊ TBMMN
- Nhức đầu: Đây là dấu hiệu thường có nhất, hay xuất hiện về đêm, nhức nửa đầu (thường ở bên sẽ bị tổn thương). Cơn nhức đầu có thể thoáng qua hoặc kéo dài.
- Chóng mặt, ù tai, buồn nôn, nhiều khi bị xung huyết ở vùng mặt (bầm tím).
- Rối loạn ngôn ngữ: Nói khó, nói ngọng, không hiểu lời.
- Tê bì hoặc dị cảm nửa người (bên sẽ bị liệt).
- Thoáng mất ý thức, thoáng quên, thoáng điếc, thoáng ngất.
Tất cả những dấu hiệu trên có thể chỉ thoáng qua rồi mất cho nên người bệnh không lưu ý. Nhưng có khi ngay sau đó người bệnh rơi vào tình trạng TBMMN (hôn mê).
NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA TBMMN
1- Nếu nặng:
Tự nhiên bệnh nhân bị sây sẩm mặt mày rồi ngã vật ra, mê man bất tỉnh, thở khò khè. Liệt nửa người, ỉa đái dầm dề. Những trường hợp này rất nặng, dễ dẫn đến tử vong sau ít giờ.
2- Nếu nhẹ:
Bệnh nhân cảm thấy nói khó, tê bì nửa người, tay chân khó vận động và dần dần không thể chủ động được nữa, tình trạng tinh thần vẫn còn tỉnh táo. Bệnh có thể dừng ở đây rồi phục hồi dần dần. Song nhiều khi trở thành nặng như trên.
Kính mong quý vị hoan h ph biến  rng rãi đ làm phước !!!