Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

TRẦN VĂN TRẠCH

              BLOG CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
Home: 138 Đống Đa, Q. Hải Châu TP Đà Nẵng
Blog: chsbodelengoctam - Email: lengoctam138@gmail.com
ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH

             NGƯỜI KHAI SINH RA ĐẠI HỘI NHẠC TẾT



Trần Văn Trạch, khi còn trẻ


Quái Kiệt Trần văn Trạch 

     Trần Văn Trạch (1924-1994) thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, hai bên nội ngoại đều có người trong giới nhạc truyền thống dân tộc. Nếu Trần Văn Khê là người anh hai (theo cách gọi trong gia đình miền Nam) mà tên tuổi lẫy lừng trong nền nhạc cỗ truyền thống dân tộc, thì cậu ba Trần Văn Trạch, tung hoành trên vòm trời nghệ thuật nhạc mới suốt nửa thế kỷ trước, tạo ấn tượng khó phai trong lòng người ngưỡng mộ cho tới nay. 
Và biệt danh “quái kiệt” tới nay hình như chỉ dành riêng cho Trần Văn Trạch là vậy. 

     
Trần Văn Trạch sanh năm Giáp Tý, 1924, tại làng Vĩnh Kim tỉnh Mỹ Tho nay là tỉnh Tiền Giang. Lúc nhỏ tên là Trần Quang Trạch, nhưng không biết thủ bộ ở làng Vĩnh Kim nghĩ thế nào mà viết tên anh là Trần Quan Trạch (không có G ). Trạch lại trùng tên bà cụ láng giềng nên ở nhà gọi tránh là Khê Em. Và tới nay người ta không biết cơ duyên nào đưa đẩy cái tên Trần Văn Trạch đến với anh, thay vì Trần Quan Trạch? 

     Gia đình anh có ba anh em.Trần Văn Khê là anh hai, Trạch thứ ba, cô em gái út là Trần Ngọc Sương là ca sĩ có tiếng vào thập niên 50 trước sống ở Canada. 

Theo gia phả, cố nội của Trần Văn Trạch là ông Trần Quang Thọ trước kia trong ban nhạc cung đình Huế vào Nam lập nghiệp sanh ra Trần Quang Diệm, cũng gọi là Năm Diệm nối nghiệp cầm ca, là ông nội của Trạch. 
     
     Trần Văn Chiều tức Bảy Triều, ba của Trạch, là người chế ra cách lên dây “Tố lan” mà trong ca nhạc tài tử cải lương miền Nam ai cũng biết. 

Nên mới nói Trần Văn Trạch thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, sống gắn bó với câu ca tiếng đờn, trong suốt thế kỷ qua. Dầu sống trong thời kỳ mà dư luận vốn có thành kiến “Nam đa kỳ, tắc suy; Nữ đa kỳ, tắc dâm” nhưng người cô thứ ba của Trạch tên Trần Ngọc Viện, gọi là cô Ba Viện, chơi đờn tỳ bà rất giỏi. Hồi trẻ Cô Ba lên Sài Gòn dạy nữ công gia chánh cho học sinh trường Áo Tím nữ học đường, sau về Mỹ Tho lập gánh hát cải lương lấy tên là Ðồng Nữ Ban năm 1927 với vở tuồng nổi tiếng là “Giọt lệ chung tình”, mà đào kép toàn là con gái nông thôn do một tay cô đào tạo. 
     
     Trần Văn Trạch thuở nhỏ có khiếu nhạc, chơi đờn kìm và tỳ bà theo ngón của cha, ca vọng cổ cũng mùi. Lớn lên trong cái nôi cải lương miền Nam là Mỹ Tho, nơi có gánh hát cải lương đầu tiên vào năm 1917 của thầy Năm Tú hát tại Chợ Cũ Mỹ Tho. Thế nhưng Trần Văn Trạch lại ham học đàn mandoline với Trần Văn Khê và học đờn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu. Trạch đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Tây thịnh hành thuở đó như là J'ai deux amouers, Marinela... Ðang học tại College de MyTho, đến năm 1942 Trạch bỏ ngang đi ra mở lò gốm làm chén! Và bởi bản tánh nghệ sĩ nên bị thất bại nên phải “dẹp tiệm”, bỏ xứ lên Sài Gòn lập nghiệp mới! 

     “Quái kiệt” Trần Văn Trạch 

     
Trần Văn Trạch lên Sài Gòn vào năm 1945, lúc đầu vào hát cho các phòng trà phục vụ quân đội Pháp với vai trò hoạt náo, ca múa (dacing) những bản nhạc Tây. Trong thời gian này anh sống với người vợ đầm và có một đứa con và vì thế anh mấy lần bị Việt Minh bắt với tội danh “Việt gian”! Trần Văn Khê vận động, nhờ người bảo lãnh, Trạch được tha nên anh gia nhập vào “Ban nhạc quân đội” Việt Minh cùng Trần Văn Khê đi lưu diễn khắp miền Tây và có lần họ gặp nhạc sĩ Lệ Thương ở Bến Tre, Mỹ Tho. 

     Sau đó độ khoảng năm 46-47 Trạch rời “kháng chiến” về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước giải khát tại khu Bàn Bờ bán cho lính Pháp. Tracco, tên Tây của Trạch do các bạn bè đặt cho anh là vào lúc này, bởi thỉnh thoảng anh hát những bài nhạc Tây nhằm câu khách. 

     Nhạc sĩ Lê Thương lúc năm 45 về Bến Tre, có thời gian bị Pháp bắt ở Mỹ Tho, sau được thả, về Sài Gòn trong phong trào hồi cư bấy giờ. Không rõ cơ duyên nào đưa đẩy khiến Lê Thương phát hiện cái khả năng hài tiềm ẩn trong con người nghệ sĩ phiêu bồng lãng tử Trần Văn Trạch? 
Nhạc sĩ Lê Thương bèn viết bài ca thử nghiệm đầu tiên cho Trạch. Ðó là bài “Hòa bình 48” hát nhái tiếng súng, đại bác, máy bay liệng bom; rồi bài ca” Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp-Anh-Nga-Tàu; bài “Làng báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo Tây! 

Nhờ những bài hát mang chất châm biếm hài của nhạc sĩ Lê Thương mà Trần Văn Trạch chuyển hướng. Anh tự sáng tác những bài hát hài để tự diễn. Bài hát anh sáng tác đầu tay năm 1951 là bài “Anh xích lô” mang chất hài vui, nhịp điệu nhanh và lôi cuốn. Với giọng ca trầm hơi thổ, mang nét mộc mạc miền Nam (như Út Trà Ôn), cộng thêm phong thái biểu diễn mới lạ, vui nhộn, độc đáo... nên Trần Văn Trạch làm khán khán giả say mê cuồng nhiệt. Anh được khán giả, báo chí phong tặng danh hiệu “quái kiệt”. Và tên tuổi quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện như là một hiện tượng lạ trong nền nghệ thuật Việt Nam suốt gần nửa thế kỷ qua. 

     Trần văn Trạch viết và biểu diễn thành công tiếp những bài mà nhắc lại thế hệ thanh niên tuổi 60, 70 ai cũng biết, đã từng nghe và mê mệt. 

      Ðó là: Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), Cái tê-lê-phôn, Anh chàng thất nghiệp, Cây viết máy, Cái đồng hồ tay, Ðừng có lo... 

     Trong lãnh vực hài kết hợp hoạt náo, qua các bài Tân nhạc, kết hợp múa theo vũ điệu Tây phương, với kiểu ăn mặc, đầu tóc lạ mắt... quái kiệt Trần Văn Trạch trở thành nghệ sĩ “hài trí thức” duy nhứt trong thời đại của anh. 

      Trần Văn Trạch còn là người tiên phong khai sanh ra loại hình Ca-Vũ-Nhạc-Kịch-Xiệc-Ảo thuật tổng hợp trên sân khấu mà chính anh là bầu sô. Cái tên “Ðại Nhạc Hội” của anh đặt ra trở thành loại hình sân khấu mới, hấp dẫn, vui tươi không thể thiếu trong dịp Tết cho tới nay ở trong và ngoài nước! 

      Rồi một hôm tại rạp hát bóng Nam Việt, Trần Văn Trạch đầu tiên lăn-xê chương trình ca nhạc mở màn trước khi chiếu phim, rất ăn khách. Thuở đó gọi tên là “Chương trình văn nghệ phụ diễn”, loại hình sân khấu này nay vẫn còn được ưa chuộng trong các cuộc thi tuyển lựa tài năng, tuyển lựa hoa hậu, giới thiệu sách, nói chuyện văn học... 
     

Trần Văn Trạch là người đầu tiên hát với sound track, nhạc thâu trước sẵn. 
      Năm 1960, hôm đó trên sân khấu Ðại Nhạc Hội giới thiệu bài hát mới “Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, lần đầu tiên quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện trên sân khấu, ca không có ban nhạc sống, gây ngạc nhiên và thích thú cho khán giả. Nhờ nghệ thuật thâu sẵn nên hòa âm và âm thanh hoàn hảo, kết hợp ca diễn ăn ý, nghệ sĩ Trần Văn Trạch hát bài “Chiều mưa biên giới” linh hoạt nên anh được khán giả nhiệt liệt hoan hô. Kiểu hát này ngày nay rất phổ biến. 

Quái kiệt Trần Văn Trạch còn được biết tới trong lãnh vực phim ảnh. Anh tham gia đóng những phim “Lòng nhân đạo” năm 1955, “Giọt máu rơi” năm 1956; làm đạo diễn phim “Thoại Khanh Châu Tuấn” năm 1956, phim “Trương Chi Mỵ Nương”, năm 1956. 

      Trong lãnh vực phát thanh, anh là người sớm có mặt trên làn sóng của Ðài phát thanh Pháp-Á từ đầu với ban nhạc Sầm Giang của anh. Hầu hết ca sĩ nổi tiếng thời đó như Minh Diệu, Tâm Vấn, Bạch Yến, Duy Trác, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Linh Sơn; với các nhạc sĩ Võ Ðức Thu, Khánh Băng, Nghiêm Phú Phi cùng các ban Tùng Lâm, ban Thăng Long... đều được anh mời cộng tác. 
Quái kiệt Trần Văn Trạch người nghệ sĩ tạo được ấn tượng riêng cho cá nhơn và là người tạo ra nhiều loại hình trình diễn, loại hình tổ chức mới cho nền nghệ thuật ca nhạc, sân khâu Việt Nam. 

       Cái còn và cái mất của người nghệ sĩ 


     
“Trên đường ra phi trường Tân Sơn Nhứt tôi nhìn thấy vài quầy bán vé số kiến thiết để một băng tang trên đó ghi một dòng chữ ‘Trần Văn Trạch đã từ trần’, để tưởng nhớ một quái kiệt trong làng tân nhạc miền Nam lừng danh với bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” trước đây. Trần Văn Trạch mất ngày 10 Tháng Tư năm 1994 tai bịnh viện Tenon Quận 20 Paris, nước Pháp, hưởng thọ 70 tuổi, vì bịnh ung thư gan!” (theo Hồi Ký Trần Văn Khê, nhà xuất bản Trẻ, 2001) 

      Năm 1977 Trần Văn Trạch sang Pháp định cư như bao người Việt Nam thời bấy giờ! Tại Pháp Anh phụ trách chương trình văn nghệ cho một nhà hàng, rồi xoay sở vào làm cho văn phòng luật sư của người Việt Nam. Ðoàn tụ với vợ con năm 1980, rồi vợ chồng góp nhặt vốn mở nhà hàng bán thức ăn Việt Nam trong siêu thị Pháp với sự giúp đỡ của thân nhân và bằng hữu. 

     Không biết do bạn bè rủ rê hay do “cái nghiệp” đưa đẫy Trần Văn Trạch qua Mỹ. Tại Mỹ với những bài “Xổ số kiến thiết quốc gia”, “Chuyến xe lửa mùng năm”, “Cái tê-lê-phôn”... làm cho anh được sống lại và đồng hương của anh như được sống lại với bao kỷ niêm vô cùng đẹp ngày xưa!!! 

     Năm 1994 trong buổi tập dợt mừng thọ 70 tuổi, anh bị đột ngụy, được bạn bè đưa về Pháp để diều tri. 

     Anh vĩnh viễn ra đi ngày mùng 10 Tháng Tư năm 1994! 

      Cuộc đời nghệ sĩ Trần Văn Trạch gắng chặt với cái tên Sầm Giang nơi anh sanh ra, có phải tại vì Sầm Giang là Rạch Gầm, con sông gợi hứng cho anh sáng tác? Anh không để lại chiến công nên không có tượng đồng bia đá. Anh chỉ để lại tiếng khóc và niềm tiếc thương của bao người ái mộ. 

      Như câu nói của danh nhân nào đó: “Khi mới chào đời, ta cất tiếng khóc trong khi mọi người thân chung quanh tươi cười. Ta hãy sống như thế nào để khi từ giã vĩnh viễn cõi đời, mọi người khóc còn mình thì mỉm cười ra đi.” 

     Ðó chính là cái còn và cái mất của Trần Văn Trạch cũng như bao nghệ sĩ tài danh vậy. 


tancogiaoduyen (Theo Trần văn Chi - NV)

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

MY FAMILY 1974 - 2014


            BLOG CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
Home: 138 Đống Đa, Q. Hải Châu TP Đà Nẵng
Blog: chsbodelengoctam - Email: lengoctam138@gmail.com
ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108

















Ý NGHĨA CỦA TẾT ĐOAN NGỌ (MỒNG 5 THÁNG 5 ÂM LỊCH) VÀ THỊT VỊT

                   BLOG CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
Home: 138 Đống Đa, Q. Hải Châu TP Đà Nẵng
Blog: chsbodelengoctam - Email: lengoctam138@gmail.com
ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108


Tết Đoan Ngọ ý nghĩa và tập tục (nGỌc tÂM sư tầm)


Hằng năm, nhiều địa phương trên khắp nước ta, cứ đến mồng 5 tháng 5 âm lịch lại tổ chức ăn Tết Đoan Ngọ. 
Vậy Tết Đoan Ngọ là Tết gì? Theo sách “Phong thổ kí” thì Tết Đoan Ngọ được gọi là Tết Đoan Dương. Đoan Ngọ là bắt đầu giữa trưa (Đoan: mở đầu, Ngọ: giữa trưa). Còn Dương là mặt trời, là khí dương, Đoan Dương có nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh.
Sở dĩ Tết này gọi là Tết Đoan Ngọ, chính vì tháng 5 là lúc bắt đầu trời nắng to, khí dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa. Theo quan niệm Đông phương thì phương Nam là chính ngọ, mà ngọ là ngôi dương cho nên Tết này gọi là Tết Đoan Dương. Ở Trung Quốc, họ gọi Tết Đoan Ngọ là Tết Trùng Ngũ vì là hai con số 5 gặp nhau, mồng 5 tháng 5.
Ngày xưa, lúc ban đầu, ngày Đoan Ngọ chỉ là ngày dân chúng cúng lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng, quang đãng. Hơn nữa, giữa tiết hạ vì oi bức thường có bệnh thời khí nên người ta hay cúng lễ để cầu an. Về sau này, để thêm ý nghĩa, người ta lấy ngày đó làm ngày kỉ niệm Khuất Nguyên và các thầy thuốc cũng nhân ngày đó để kỉ niệm hai chàng Nguyễn Triệu và Lưu Thần vào núi Thiên Thai hái thuốc.
Khuất Nguyên làm chức Tả Đồ nước Sở dưới triều vua Sở Hoài Vương bên Trung Quốc, có tài và liêm chính. Về sau ông bị nhà vua truất bỏ. Để tả nỗi oán than, ông có viết bài thơ Ly Tao nổi tiếng. Đến đời vua Tương Vương, ông còn bị đi đày vì nhà vua nghe theo lời bọn xu nịnh. Ông buồn nhảy xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm đó là ngày mồng 5 tháng 5.
Được tin đó, nhà vua vô cùng hối hận và thương tiếc, người dân làm cỗ đem ra bờ sông ném xuống nước cho ông hưởng.
Còn Lưu Thần và Nguyễn Triệu là hai người đời nhà Hán, nhân ngày Tết Đoan Dương cùng rủ nhau vào núi hái thuốc, gặp hai tiên nữ kết duyên. Sau thời gian nửa năm sống nơi tiên cảnh với vợ tiên, hai người nhớ nhà đòi về. Giữ lại không được, hai tiên nữ đành đưa tiễn chồng về quê cũ. Vì thời gian ở tiên cảnh chỉ có nửa năm nhưng là mấy trăm năm ở cõi trần. Hai chàng thấy phong cảnh quê nhà đã khác xưa, người quen thì đã ra người thiên cổ, hai chàng bèn rủ nhau trở lại cõi tiên nhưng không được. Hai chàng ra đi mà không thấy trở về...
Trong ngày Tết Đoan Ngọ, thuở xưa ở các làng xã có tế thần ở đình, đền, ở thôn, xóm thì cúng ở miếu. Tại gia đình thì sửa lễ cúng tổ tiên và cúng Thổ công. Lễ cúng là phẩm vật toàn trái cây. Riêng các gia đình thầy thuốc còn có thêm lễ cúng Thánh sư.
Sau lễ cúng Tết Đoan Ngọ là các tục lệ như tục giết sâu bọ, tục nhuộm móng chân, móng tay, tục tắm nước lá mùi, tục khảo cây lấy quả, tục hái thuốc vào giờ ngọ, tục treo ngải cứu để trừ tà... Phần lớn các tục lệ trên nay đã được bãi bỏ, chỉ còn giữ lại tục tắm nước lá mùi và tục đi hái lá thuốc. Nhiều địa phương ở ven sông, ven biển thay vì tắm nước lá mùi thì đúng giờ ngọ họ đi tắm sông, tắm biển gọi là tắm mồng 5.
Ở một số nơi còn giữ tục tết thầy học, tết thầy lang trong dịp này để trả ơn sự dạy dỗ của thầy giáo và đền ơn cứu bệnh của thầy lang.
Cũng như nhiều các lễ tiết khác, Tết Đoan Ngọ nguyên sơ từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam nhưng đến nước ta được biến đổi mang một hình thức và ý nghĩa văn hoá khác. Những tập tục trong lễ tết được xây dựng trên căn bản nhân nghĩa và đạo đức truyền thống. Những tục lệ tết thầy giáo, thầy thuốc, biếu tặng những người đã tri ân cho mình đã chứng tỏ rằng, lễ giáo của ta rất được tôn trọng và những ân sâu nghĩa trọng không bao giờ quên.
Tết Đoan Ngọ ngày nay, qua mọi biến đổi của thời cuộc vẫn tồn tại trong nhân dân với ý nghĩa thiết thực và thiêng liêng của nó. Ăn Tết Đoan Ngọ, chúng ta cần tìm hiểu giá trị và tinh thần của ngày Tết này...

-----------------------------

Vì sao người Việt ăn thịt vịt vào Tết Đoan Ngọ?

  Hằng năm, cứ đến mồng 5 tháng 5 (âm lịch), dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan Ngọ. Về nguồn gốc của Tết Đoan Ngọ, đến nay nhiều người vẫn cho rằng có xuất xứ từ Trung Quốc. Tuy nhiên, căn cứ vào một số công trình nghiên cứu văn hóa cho thấy, Tết Đoan Ngọ của người Việt hiện nay lại có một nguồn gốc hoàn toàn khác…


Bánh ú nước tro là món bánh truyền trống của người miền Nam trong ngày Tết Đoan Ngọ. Những thứ bánh làm từ gạo chỉ có ở những khu vực có nền văn minh lúa nước.

Tại sao dùng toàn thịt vịt? Có lẽ không phải tự nhiên hay tình cờ mà thành tập tục. Sau đây là một số lý do
đưa đến việc ăn thịt vịt trong ngày 5 tháng 5 âm lịch hàng năm.

Vịt: Tên trong sách thuốc cổ là “Gia Áp,” có nơi gọi là Gia Phù, cũng còn gọi là Vụ.
Theo dược lý Đông y: Thịt Vịt có tính chất: mát, ngọt (hơi độc), có tác dụng làm chuyển động phong huyết và làm tăng thêm năng lực, bồi bổ cơ thể cho người lao lực, lao tâm nhiều (gọi là Bổ hư), thịt vịt chữa nóng sốt cao đến co giật (gọi là Sài kinh), vịt giải độc mụn sưng và hạ nhiệt.
Vịt có sắc vàng trắng thì có tác dụng “Bổ Trung Ích Khí” nghĩa là làm cho những người suy nhược được phục hồi nguyên khí. Người ta nói “ăn thịt vịt hiền và bổ khỏe”. Thông thường người ta ăn thịt vịt theo lối luộc chấm nước mắm gừng hoặc nấu cháo vịt.



Vịt tiềm với sen, táo, đinh và hồi, thường gọi là vịt tiềm thuốc Bắc. Vịt phải “ăn già” nghĩa là phải trưởng thành, thường là từ sáu tháng trở lên, không ăn non như gà.

Như vậy: ngày Đoan Ngọ, khí trời nóng nực (tiết Đại Thử) nhiệt độ cao, nên người ta dùng thịt vịt có tính mát, bổ, để quân bình nhiệt – hàn giữa Trời và Người.



Thịt Vịt có tính “âm và hàn” ăn vào mát và bổ dương. Và vì thuộc “âm hàn” nên nếu ăn thịt vịt không mà thôi thì những người “tì vị yếu” tức tiêu hóa kém, sẽ dễ bị đau bụng tiêu chảy hoặc bị lạnh bụng, khó tiêu, “nê tì”… Do đó, khi ăn thịt vịt người ta luôn luôn cần một thứ gia vị đó là củ gừng. Vì tính chất của gừng: vị cay, khí ấm có tác dụng lợi khí, thông thần (khi cảm thấy mệt, nhai một miếng gừng, người ta thường có cảm giác thoải mái), hạ đờm, tiêu thực, trừ tà bổ chính. Gừng thuộc “dương nhiệt” đi với thịt vịt “âm hàn” thành ra âm, dương, hàn, nhiệt điều hòa thức ăn sẽ dễ tiêu và mau hóa thành chất bổ đưỡng…



Sách Nam Dược ghi nhận: Gừng là thánh dược của các bệnh thuộc về bộ tiêu hóa như: lạnh bụng, tích trệ, ăn không tiêu, ựa hơi. (Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh)


Thịt Vịt: Hàn, khí dương, mát quá có thể làm đau bụng tiêu chảy hoặc tích trệ, ăn không tiêu, do đó cần phải có Gừng dẫn đạo, kết hợp âm dương/hàn nhiệt điều hòa, nên ăn vào ngon bổ mà không có tác hại. Trái lại thịt vịt thiếu gừng thì chẳng những có hại mà không ngon!


Một lý do nữa là dân gian quan niệm rằng, vịt sẽ bắt đầu béo ngậy, thơm ngon hơn kể từ ngày mùng 5 tháng 5 trở đi. Chính vì vậy, không có gì là ngạc nhiên khi thấy các gia đình đều mua vịt về ăn trong ngày Tết Đoan Ngọ, đặc biệt là món tiết canh vịt.



Xem như vậy thì các món ăn mà người Việt Nam thường dùng không phải là do sự tình cờ. Vì trong thức ăn của Việt Nam, các chất trong thiên nhiên được tổng hợp theo nguyên lý âm-dương hàn-nhiệt để các chất bổ dưỡng dễ hấp thụ vào cơ thể. Chắc người xưa đã có nghiên cứu, có bài bản, nhưng bài bản ấy đã bị mất mát, hư hao, chỉ còn truyền lại bằng miệng, bắt chước nhau: xưa nói nay làm mà thôi, nhưng lại rất tinh vi.

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

CHỢ HÀN ĐÀ NẴNG


              BLOG CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
Home: 138 Đống Đa, Q. Hải Châu TP Đà Nẵng
Blog: chsbodelengoctam - Email: lengoctam138@gmail.com
ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108
CHỢ HÀN ĐÀ NẴNG

       Du lịch Đà Nẵng có rất nhiều điểm tham quan danh thắng và những cảnh thiên nhiên hữu tình nhất cho du khách. Nhưng còn một lý do khác Đà Nẵng lại được nhiều người yêu mến đó là quá trình lịch sử của vùng đất này. Hầu như một sự kiện đặc biệt của nước ta đều xảy ra tại đây. 1858 Pháp bắn phát súng đầu tiên vào bán đảo sông trà mở ra thời kỳ đô hộ nước ta. Và con người nơi đây là môt kỳ tích sống của lịch sử, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để xây dựng nên một Đà Nẵng văn minh và hiện đại. Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử Đà Nẵng qua những bức ảnh của Chợ Hàn, một khu chợ đầy tiên đầy dấu ấn của thành phố Đà Nẵng.
thodiadathanh-cho-han-da-nang-4
Góc chợ Hàn (Trần Phú - Trần Hưng Đạo)
thodiadathanh-cho-han-da-nang-5

thodiadathanh-cho-han-da-nang-8
Bên hông Chợ Hàn Đường Trần Hưng Đạo
thodiadathanh-cho-han-da-nang-7
Bên gốc cây là nhà sách Sông Đà
 thodiadathanh-cho-han-da-nang-10
        Chợ Hàn cũng là một điểm đến thú vị với rất nhiều du khách thập phương và du khách quốc tế. Nằm ở một vị trí rất tốt là trung tâm thành phố Đà Nẵng và cũng không cách cầu sông Hàn thơ mộng không xa, với bốn mặt giáp với những tuyến đường lớn của Đà Nẵng là Hùng Vương, Trần Phú, Trần Hưng Đạo và Bạch Đằng. Chợ Hàn là một khu chợ đã có từ khá lâu, vào năm 1940 khi bắt đầu chỉ là một khu giao thương buôn bán tự phát của một nhóm người. Tuy nhiên thì do những điều kiện hết sức thuận lợi là những phương tiện giao thông như đường bộ đường thủy và do đó Chợ Hàn càng ngày càng phát triển vượ bậc, vươn mình thành một khu chợ lớn với rất nhiều thương gia người Hoa và người Việt xây dựng tham gia giao dịch. Và những mặt hàng sản phẩm chính cũng không thể thiếu dành cho người dân chính là các cửa hiệu tạp hóa, vàng bạc, thuốc bắc,…
thodiadathanh-cho-han-da-nang-2
        Và một điều đáng nói đến chính là kiến trúc của chợ. Với kiểu kiến trúc đẹp và thoáng đãng, quy mô 576 gian hàng cùng 36 sạp xung quanh chợ cung cấp rất nhiều những mặt hàng sản phẩm từ 30 nhóm ngành hàng khác nhau. Không những thế du khách còn cảm nhận một sự bài trí trưng bày gọn gàng ngăn nắp cho người đi chợ và họ cũng không cảm thấy mệt mỏi gì nhiều.
       Ngoài ra Chợ Hàn còn rất đa dạng với rất nhiều mặt hàng hóa từ giày dép, quần áo, túi xách cho đến những dồ lưu niệm và quà tặng xinh xắn dành cho du khách. Những mặt hàng thực phẩm tươi sống như hải sản với giá cả phải chăng cũng là một điểm nhấn khiến Chợ Hàn trở thành một trung tâm thu hút đông du khách các buổi xế chiều.
       Nhờ có vị trí đẹp và mang đậm nét đặc trưng của người dân Đà Nẵng, Chợ Hàn đã phát huy được khả năng và thế mạnh củamình do đó là một tour mien trung không thể thiếu cho những ai quan tâm về lịch sử hình thành của Đà Nẵng.
thodiadathanh-chohan

CẦU VỒNG ĐÀ NẴNG - LỊCH SỬ & XÂY DỤNG

             BLOG CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
Home: 138 Đống Đa, Q. Hải Châu TP Đà Nẵng
Blog: chsbodelengoctam - Email: lengoctam138@gmail.com
ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108

          HOÀI NIỆM CẦU VỒNG XƯA CỦA TP ĐÀ NẴNG

 Ảnh chụp đường tránh cầu vồng xưa
Đi thêm tí nữa là đến nhà VÕ MẪN và NGÔ HỮU BA (DIỆP)


CẦU VỒNG ĐÀ NẴNG XƯA 

      Ở Đà Nẵng xưa có một con đường khá đặc biệt. Đó là đường… Cầu Vồng, chỉ đoạn kéo dài từ ngã tư Đông Kinh Nghĩa Thục - Thống Nhất (hiện nay là Lê Duẫn) đến ngã tư Thống Nhất - Khải Định (nay là Ông Ích Khiêm) . Thật ra, đường Cầu Vồng là cách gọi dân dã chứ Đà Nẵng không có con đường nào được đặt tên là đường Cầu Vồng cả.
     Tên gọi chính thức của con đường có đoạn đường Cầu Vồng thay đổi qua nhiều giai đoạn trong lịch sử. Tên xưa nhất là Rue Pigneau de Béhaine (một giáo sĩ người Pháp mà dân ta thường gọi là Bá Đa Lộc), do thực dân Pháp đặt. Năm 1954, chính quyền Sài Gòn đổi lại là đường Thống Nhất; đến năm 1987 được đổi tên thành đường Lê Duẩn. Còn sự xuất hiện của đoạn đường mà dân gian thường gọi là đường Cầu Vồng, xóm Cầu Vồng, vì đó là đoạn đường có dốc khá cao, giống như độ dốc của cầu vượt Hòa Cầm hiện nay.
Và, mươi năm trở về trước, khi đoạn đường Cầu Vồng chưa bị san bằng để tiến hành thi công đường Lê Duẩn thẳng tắp, khang trang, những ai đi xe đạp đều có tâm lý… tránh đoạn đường này. Bởi, mười người như một rất ngại đạp xe lên Cầu Vồng. Lên dốc và xuống dốc đâu phải dễ. Đạp lên đã mệt nhưng khi xuống, luôn phải cẩn thận, vì độ dốc khá lớn, rất nguy hiểm.
Thật ra, địa điểm xưa gọi là Cầu Vồng hoàn toàn không có đồi, cũng không có nổng đất cao nào cả. Đó là chỗ đất bằng phẳng. Thế rồi, khi thực dân Pháp tiến hành làm con đường sắt nối ga xe lửa Đà Nẵng, bấy giờ gọi là Gare de Tourane central, thì có một con đường sắt băng ngang qua đường Rue Pigneau de Béhaine - một trong những tuyến đường quan trọng trên cửa ngõ chính vào Đà Nẵng lúc đó nên luôn có nhiều người qua kẻ lại. Để tránh tai nạn giao thông, thực dân Pháp cho xây một cái ba-ri-e để đóng lại khi có tàu lửa đi ngang qua. Thế rồi, một lần nọ, một vị quan đầu tỉnh có công chuyện phải đi ngang qua đoạn đường có cái ba-ri-e ấy. Quan đi bằng ô-tô, bấy giờ gọi là xe đít vịt, sơn màu đen, nhỏ nhắn. Đã là xe quan thì sang trọng, ai không biết, ai không sợ. Quan mà, hét ra lửa, đâu phải chuyện chơi. Thêm vào đó, quan mà đi ô-tô thì phải là quan lớn, quyền hành ghê gớm lắm. 
       Chẳng may, khi ô-tô chở quan lớn từ ngã ba Huế vừa đến nơi thì tàu cũng hụ còi, báo hiệu sắp đi qua. Nhân viên gác ba-ri-e vội vàng cho đóng cổng lại nhằm ngăn tất cả người băng qua, bảo vệ tính mạng của họ. Viên quan ngồi trong xe thấy vậy, tỏ ra hậm hực. Đường đường là quan lớn mà cái gã nhân viên gác ba-ri-e quèn cũng không nể mặt cho. Ít ra, gã phải để cho quan qua, thế mới phải lẽ chứ? Tàu hú còn xa, đâu phải đã sắp đến mà không nể mặt quan, cứ thản nhiên đóng cổng lại. Hỏi thử không tức sao được. Quan nghĩ vậy. Ông ta bảo thằng lính theo hầu phải nạt gã nhân viên gác cổng một hơi cho hả giận.
Sau khi tàu lửa đi khỏi, thằng lính đi theo hầu theo lệnh quan, hùng hổ đi tới, trừng trừng nhìn nhân viên gác cổng, quát rằng: “Sao thấy xe quan đi qua mà đóng cổng, bộ không sợ sao?”. Người gác cổng thưa lại: “Tui không đóng cổng thì giờ ni quan đã chết mất rồi. Tàu lửa qua, nó có biết quan mô mà tránh. Lúc đó, ai chịu tội? Quan chớ vua qua tui cũng đóng”. Lý lẽ nhân viên gác cổng nghe qua thật có lý. Ông bà thường nói “Nói thật cục đất cũng nghe”. Thằng lính hầu lúc ấy cứng họng, ngẩn tò te, không biết nói sao. Hắn đành quay lại, bẩm sự tình với quan.
      Quan nghe qua, không nói gì. Nhưng thời gian sau, quan lệnh xuống cho dân các xã Hải Châu, Thạch Thang, Thạc Gián và Tân Chính gánh đất đổ cao lên, làm Cầu Vồng. Thực chất, đây là một chiếc cầu tránh xe lửa. Quan nghĩ, khi cầu hoàn thành, xe lửa chạy mặc xe lửa, người ta vẫn đi được. Cầu tránh xe lửa mà! Tiện lợi đôi đường. Không những tiện cho quan khi đi công vụ mà người dân cũng được hưởng lợi. Dù gì, đây cũng là công trình công ích.
       Bấy giờ, không khí lao động thi công đoạn đường có danh xưng là Cầu Vồng nhiều khi rất náo nhiệt. Hầu như tất cả đều làm bằng tay nên đòi hỏi sức lực ghê gớm. Thôi thì đầu này kẻ gánh, đầu kia kẻ xúc. Trưa, cát bụi bay mù mịt. Tuy gọi là lệnh cho dân nhưng khi thi công, quan cũng xuất công quỹ. Mỗi người khi làm đoạn đường nói trên được hưởng một ít tiền công. Thế cho nên, trong dân gian mới có câu hát vui rằng “Đẩy ông Lô/ Ngày năm bảy giác/ Cũng vô bánh bèo”. Số là, thi công đường hồi đó chưa có xe lăn, xe đầm, người ta phải sử dụng gốc tre gốc, đục lỗ, chế tạo ra cái đầm bằng tay, gọi là ông lô. Đẩy ông lô tức đẩy cái đầm qua lại để nén đất cho thật chặt. Tương truyền người ta đầm cả mấy tháng trời. Tất cả đều bằng sức người là chính. Công việc nặng nhọc, vất vả, người dân mau đói bụng. Cho nên, với mấy giác (phương ngữ miền Trung, nghĩa là một hào, một cắc - ĐNCT) tiền công, chỉ đủ cho họ ăn… bánh bèo đỡ đói, chẳng nhằm nhò gì!
                                                                                   (Ngọc Tâm ST Nguồn Phạm Hữu Đăng Đạt)

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

LỜI CÁM ƠN CỦA KIM THƯ ĐẾN CÁC BẠN CHS TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐN

      BLOG CỦA LÊ NGỌC TÂM CHS TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG
Home: 138 Đống Đa, Q. Hải Châu TP Đà Nẵng
Blog: chsbodelengoctam - Email: lengoctam138@gmail.com
ĐT: 0914.00.09.09 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108


HỒ KIM THƯ CHS BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG



      Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè cựu học sinh Trung học Bồ Đề Đà Nẵng đã đến chia vui  gởi quà trong dịp lễ thành hôn của con gái Thư : Li Jen Jen và Nguyễn Thanh .
      Sự hiện diện của các bạn :  Bùi Tấn Trung , Lê thị Ngọc Lan , vợ chồng Ất , Lê Ngọc Tâm , Bê Hoa, Chờ,  Thu Cúc , Kim Chi A, anh Tâm chồng Kim Nhạn, Thùy Liên, Xuân Hoa, Khoa, Đặng văn Dũng, Hùng, Hà Liêm, Hoàng Dung, Lê thị Bích Hồng, Kim Thủy,
Hồ thị Bích Ngọc, Thu Thủy, Chua, Huỳnh thị Thơm,  Lan Hương, Nguyễn thị Hương, Mỹ Lý, Nguyễn văn Thảo , Lê Ba , Đoàn Tuấn , Thúy Anh, Lệ Thủy , Thuyên , Huỳnh Thi ,Hoa Trần , Nguyễn thị Hạnh ...
     Và những món quà của các bạn Sài Gòn: Vợ chồng Thọ Yến , Phạm thị Bích Hồng
      Các bạn ở Mỹ : Huyền Nga , Minh Diệu
     Sự quan tâm của các ban là niềm vinh dự vô cùng cho gia đình Kim Thư, nếu có gì sơ sót xin các bạn bỏ qua .
      Hơn 40 năm rời xa quê hương, không gì hạnh phúc hơn được trở về sống trong vòng tay bè bạn. 
     Một lần nữa xin cám ơn những người bạn một thời trung học Bồ Đề Đà Nẵng mến yêu .
                                                                                                                                                                                  Hồ Kim Thư